Tự tạo vận may là cách nói về những việc một người làm để mình gặp nhiều cơ hội hơn, nhận ra cơ hội sớm hơn, nắm được nó khi nó tới, và ít bị quật ngã khi chuyện rủi xảy ra. Nó không có nghĩa là điều khiển được kết quả, càng không có nghĩa là đổi được số. Một cơn mưa đá, một trận ốm, một lần công ty giải thể vẫn nằm ngoài tầm tay. Cái nằm trong tay là số lần mình bước ra, mức độ mình sẵn sàng, và cách mình đứng dậy.
Câu trả lời ngắn cho câu hỏi “may mắn có tự tạo được không” là: một phần. Phần may thuần tuý (sinh ra ở đâu, gặp ai đúng lúc nào, trúng hay trượt một lần thử) thì không. Nhưng phần may đến từ hành vi (đi nhiều, hỏi nhiều, quen nhiều, để ý nhiều, chuẩn bị kỹ) thì có, và phần này lớn hơn người ta thường nghĩ. Bài dưới đây tách hai phần đó, đi qua vài khung nhìn có căn cứ, và chỉ ra chỗ mà lời khuyên “tự tạo may” dễ biến thành lời trách người gặp rủi.
Hai nghĩa của chữ may: may thuần tuý và may có điều kiện
Trong tiếng Việt, chữ may gánh hai nghĩa mà người nói ít khi tách ra. Nghĩa thứ nhất là may thuần tuý: một sự việc tốt xảy ra mà người hưởng không góp phần nào. Chiếc xe khách mình định đi bị hỏng nên mình đi chuyến sau và tránh được tai nạn; trời nắng đúng ngày phơi lúa; tờ giấy rơi xuống đất được người tốt nhặt trả. Không có hành động nào của mình làm những chuyện ấy dễ xảy ra hơn.
Nghĩa thứ hai là may có điều kiện: sự việc tốt đến một phần nhờ mình đã ở đúng chỗ, đã có sẵn thứ gì đó để đón nó. Một người thợ mộc được giới thiệu làm cho một công trình lớn vì chủ nhà tình cờ thấy chiếc tủ anh đóng ở nhà người quen. Phần tình cờ là có thật, nhưng nếu không có chiếc tủ đẹp, không có người quen để chiếc tủ được nhìn thấy, thì sự tình cờ ấy không có gì để bám vào.
Khi người ta nói “tự tạo vận may”, họ nói về nghĩa thứ hai. Nhầm hai nghĩa này sinh ra hai lỗi ngược nhau. Lỗi thứ nhất là coi mọi thành công đều do mình, bỏ qua phần trời cho, nên khinh người kém may. Lỗi thứ hai là coi mọi chuyện đều do trời, bỏ qua phần mình làm được, nên ngồi chờ. Tục ngữ Việt có câu chế giễu kiểu thứ hai rất sắc là “há miệng chờ sung”: quả sung có rụng thật, nhưng người nằm há miệng thì gần như không bao giờ hứng được.
Năm việc nằm trong tay mình
Số lần bước ra. Mỗi lần nộp hồ sơ, gửi một bài viết, chào một khách hàng, ghé một hội chợ là một lần mở cửa cho sự tình cờ. Xác suất mỗi lần có thể nhỏ, nhưng số lần thì mình quyết. Một người gửi ba hồ sơ và một người gửi ba mươi hồ sơ không có cùng “số”, dù hai người cùng tài như nhau.
Mạng lưới người quen. Phần lớn cơ hội đi qua người khác: một lời giới thiệu, một tin nhắn “bên mình đang cần người”. Người quen nhiều người, nhất là quen ở nhiều nhóm khác nhau, đứng ở chỗ có nhiều luồng tin chảy qua. Đây là phần may mắn có thể vun bằng sự tử tế và đều đặn, không cần khéo léo xã giao.
Độ mở của sự chú ý. Cơ hội ít khi đội nón đề tên. Người đang lo âu, căng thẳng thường nhìn hẹp lại, chỉ thấy đúng thứ mình đang tìm và bỏ qua những thứ ở rìa. Người thoải mái hơn nhìn rộng hơn, và nhờ thế bắt được nhiều chuyện tình cờ hơn.
Mức sẵn sàng. Khi cơ hội tới, có những thứ không kịp chuẩn bị nữa: tay nghề, vốn hiểu biết, sức khoẻ, một khoản tiền dự phòng, một hồ sơ đã viết sẵn. Người đã có sẵn những thứ ấy nắm được cơ hội trong khi người khác còn đang chạy đi chuẩn bị.
Cách đứng dậy sau chuyện rủi. Không ai tránh được mọi chuyện rủi, nhưng thời gian nằm xuống sau mỗi cú ngã thì khác nhau nhiều. Người đứng dậy nhanh, rút ra được thứ gì đó, có thêm nhiều lần thử hơn trong cùng một quãng đời. Về lâu dài, chênh lệch số lần thử này trông giống hệt chênh lệch về may mắn.
Vì sao số lần thử lại quan trọng đến thế
Thử làm một phép tính tay, với con số là ví dụ giả định. Giả sử mỗi lần gửi đề xuất cho một đối tác mới, cơ hội được nhận là khoảng 5%, tức một phần hai mươi. Người gửi 5 lần một năm có xác suất được nhận ít nhất một lần chỉ khoảng 23%. Người gửi 20 lần có xác suất khoảng 64%. Người gửi 40 lần thì xác suất ít nhất một lần thành công lên tới khoảng 87%. Cách tính là lấy 1 trừ đi xác suất trượt hết, tức 1 trừ 0,95 mũ số lần.
Ba người này có cùng năng lực, cùng “số”, chỉ khác số lần bước ra. Vậy mà nhìn từ ngoài vào, người thứ ba trông như được trời thương, người thứ nhất trông như kém duyên. Rất nhiều câu chuyện “người ấy may thật” khi đào kỹ ra là chuyện người ấy thử nhiều hơn người khác, và chỉ phần thành công được kể lại.
Phép tính này cũng có mặt trái cần nói rõ. Thử nhiều chỉ có ích khi mỗi lần thử không quá đắt và không làm hỏng lần sau. Gửi bốn mươi đề xuất cẩu thả có thể làm mình mang tiếng; thử bốn mươi lần một việc tốn kém có thể cạn vốn trước khi gặp lần trúng. Thử nhiều là chiến lược của những việc rẻ, lặp lại được, và mỗi lần thử để lại một bài học. Với những quyết định lớn chỉ làm một lần, chuẩn bị kỹ quan trọng hơn số lần.
Phân biệt phần trong tay và phần ngoài tay
Bảng sau xếp một số yếu tố hay được gọi chung là “may mắn” theo mức độ mình tác động được. Mục đích không phải để chấm điểm ai, mà để biết nên dồn sức vào đâu và nên buông bớt chỗ nào.
| Yếu tố | Mức tác động của mình | Nên làm gì |
|---|---|---|
| Gia cảnh, nơi sinh, sức khoẻ bẩm sinh | Gần như không | Chấp nhận như điểm xuất phát, không đem ra so |
| Thời thế, thời tiết, biến động chung | Rất ít | Dự phòng, không đặt cược tất cả vào một kịch bản |
| Gặp đúng người đúng lúc | Một phần | Tăng số người mình gặp và giữ liên lạc tử tế |
| Nhận ra cơ hội | Đáng kể | Giữ đầu óc thoáng, ghi lại ý tưởng, hỏi nhiều hơn |
| Nắm được cơ hội khi nó đến | Lớn | Rèn tay nghề, giữ khoản dự phòng, hồ sơ sẵn sàng |
| Hồi phục sau chuyện rủi | Lớn | Nhìn lại sự việc, rút bài học, quay lại thử tiếp |
Đọc từ trên xuống, phần tác động của mình tăng dần. Điều thú vị là những dòng trên cùng là chỗ người ta hay than nhất, còn những dòng dưới cùng là chỗ người ta hay bỏ quên nhất. Tự tạo vận may, nói gọn, là dời sự chú ý từ những dòng trên xuống những dòng dưới.
Tục ngữ Việt nói gì về chuyện tự lo phần mình
Kho tục ngữ Việt có cả hai giọng: giọng giao cho trời và giọng giao cho người. Bên cạnh những câu như “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” là những câu đặt nặng vào sức người: “có làm thì mới có ăn”, “tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, “ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”. Người xưa không thấy hai giọng này mâu thuẫn. Họ làm hết phần mình, rồi mới để phần còn lại cho trời.
Cách nhìn ấy khớp với khung “tự tạo vận may” hơn ta tưởng. Câu “cày sâu tốt lúa” không hứa rằng năm nào cũng được mùa; trời hạn vẫn hạn, bão vẫn bão. Nó chỉ nói rằng trong những năm trời thuận, ruộng cày sâu cho lúa tốt hơn ruộng cày qua loa, và trong năm trời nghịch, ruộng cày sâu chịu được lâu hơn. Đó đúng là tinh thần của việc chuẩn bị: không đổi được thời tiết, nhưng đổi được cách mình đón thời tiết.
Còn câu “há miệng chờ sung” thì là bức chân dung của người hiểu sai chữ may. Người ấy không lười hẳn; người ấy chỉ đặt toàn bộ hy vọng vào phần ngoài tay mình. Cái nhìn tự tạo vận may không chê người ấy kém may, mà chỉ ra rằng người ấy đã bỏ trống phần việc mình làm được.
Chỗ lời khuyên “tự tạo may” dễ biến thành lời trách
Mọi khung nhìn đề cao phần chủ động đều có một cái bẫy: dễ trượt thành “ai không may là do không cố”. Đây là một sai lầm cả về lý lẫn về tình. Về lý, phần ngoài tay là có thật và có khi rất lớn: một trận lũ cuốn trôi cả vụ nuôi trồng, một căn bệnh hiếm, một cú suy thoái kinh tế. Người làm đủ mọi thứ đúng vẫn có thể thua. Về tình, nói với người vừa gặp rủi rằng họ đã không tự tạo may là làm họ đau thêm một lần nữa.
Một cách giữ thăng bằng là luôn tách “quy trình” và “kết quả”. Quy trình là những việc mình đã làm; kết quả là những việc đã xảy ra. Một người có quy trình tốt và kết quả xấu là người kém may lần này, không phải người làm sai. Một người có quy trình tệ và kết quả tốt là người được may lần này, không phải người làm đúng. Khung tự tạo vận may chỉ nói về quy trình, và chỉ hứa rằng về lâu dài quy trình tốt cho kết quả tốt hơn trung bình, không hứa cho từng lần.
Thêm một điều nữa: người xuất phát thấp có ít chỗ để “thử nhiều” hơn. Một lần thất bại với họ đắt hơn. Vì thế, khi bàn chuyện tự tạo may, nên nhớ rằng phần trong tay của mỗi người rộng hẹp khác nhau, và một xã hội tốt là xã hội nới rộng phần ấy cho người thiệt thòi, chứ không chỉ khuyên họ cố thêm.
Bắt đầu từ đâu: một vòng tự hỏi trong tuần
Không cần thay đổi cả cuộc đời để vun vận may. Một vòng tự hỏi ngắn mỗi tuần đủ để dời sự chú ý từ phần ngoài tay về phần trong tay:
- Tuần này mình đã bước ra bao nhiêu lần? Đếm những lần gửi, hỏi, chào, thử. Nếu con số là không, đó là chỗ đầu tiên cần sửa.
- Mình đã gặp ai mới, hay hỏi han lại ai cũ? Một tin nhắn hỏi thăm người quen lâu không gặp cũng là một sợi dây cơ hội.
- Có điều gì bất ngờ xảy ra mà mình bỏ qua không? Một lời mời, một câu hỏi lạ, một việc ngoài kế hoạch. Ghi lại, xem có gì đáng theo.
- Nếu một cơ hội lớn đến vào sáng mai, mình có sẵn sàng không? Thiếu thứ gì thì đó là việc chuẩn bị cho tuần sau.
- Chuyện không may nào xảy ra, và mình rút ra gì? Không cần thành bài học lớn, chỉ cần một dòng ghi chú để lần sau làm khác.
Vòng tự hỏi này không làm cho tuần sau chắc chắn may hơn. Nó chỉ làm cho phần mình làm được không bị bỏ trống. Sau vài tháng, điều thay đổi rõ nhất thường không phải là số lần gặp may, mà là cảm giác bớt bất lực trước những thứ ngoài tay mình.
Câu hỏi thường gặp
Tự tạo vận may có phải là một lý thuyết khoa học không?
Không hẳn. Đây là một cách nói gom nhiều quan sát có căn cứ: số lần thử ảnh hưởng xác suất, mạng lưới người quen đem lại cơ hội, lo âu làm hẹp sự chú ý. Từng mảnh có nghiên cứu ủng hộ ở mức khác nhau, nhưng cụm từ thì là khung tư duy đời thường, không phải định luật.
Người tin số phận có mâu thuẫn với chuyện tự tạo may không?
Không nhất thiết. Nhiều người xưa vừa tin có phần trời định vừa làm hết sức phần mình, như tinh thần làm hết việc người rồi mới để việc trời. Khung tự tạo may chỉ cần người ta thừa nhận rằng có một phần kết quả chịu ảnh hưởng của hành động, dù lớn hay nhỏ.
Làm sao biết một thất bại là do kém may hay do làm sai?
Nhìn lại quy trình thay vì chỉ nhìn kết quả. Nếu với thông tin lúc đó, cách làm là hợp lý và đã chuẩn bị đủ, thì phần lớn là kém may. Nếu có bước bỏ qua, thông tin không chịu tìm, hay quyết định vội, thì có phần làm sai cần sửa. Thường là cả hai trộn lẫn.
Người hướng nội có thiệt khi tự tạo may không?
Không thiệt nhiều như người ta nghĩ. Mạng lưới không cần ồn ào; vài mối quan hệ đều đặn và tử tế, một thói quen viết hay chia sẻ việc mình làm, cũng mở ra nhiều cơ hội. Người hướng nội thường giỏi để ý và chuẩn bị, hai phần rất quan trọng của vận may.
Có nên kể cho người đang gặp rủi nghe về chuyện tự tạo may?
Không nên vào lúc họ vừa gặp chuyện. Lúc ấy họ cần được lắng nghe và giúp việc cụ thể. Chuyện nhìn lại phần nào trong tay mình hợp hơn khi họ đã qua cơn sốc, và tốt nhất là để chính họ hỏi trước, không phải mình đem ra giảng.
Tự tạo may có giúp được người nghèo không?
Có nhưng có giới hạn. Người ít vốn có ít chỗ để thử và sai, nên lời khuyên thử nhiều cần đi kèm những cách thử rẻ. Phần lớn hơn nằm ở cộng đồng và chính sách: học bổng, tín dụng nhỏ, mạng lưới hỗ trợ giúp nới rộng phần trong tay cho người xuất phát thấp.